Nông nghiệp đô thị (NNĐT) là ngành kinh tế nông nghiệp trong đô thị và ven đô sản xuất, chế biến và cung ứng cho người dân lương thực, thực phẩm tươi sống, hoa, sinh vật và thực vật cảnh.
Tỉnh Vĩnh Long có tổng diện tích đất nông nghiệp 118.918,5 ha, trong đó, đất nông nghiệp ở các khu vực đô thị và ven đô (cách khu vực đô thị khoảng 2 km) chiếm khoảng 41,1% trên tổng số. Giá trị sản xuất nông nghiệp hàng năm của các khu vực này đã đóng góp phần lớn vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp chung của tỉnh (Chỉ tính riêng năm 2014 giá trị này đạt 6.642.618,3 triệu đồng chiếm khoảng 30%). Do vậy những năm qua, các vấn đề thuộc về sản xuất và tiêu thụ nông sản tại các khu nông nghiệp đô thị trong tỉnh đã và luôn là một trong các mối quan tâm hàng đầu của ngành nông nghiệp địa phương. Cụ thể:
Công tác tổ chức sản xuất trong nông nghiệp đô thị
Để góp phần giúp các địa phương, nông dân khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế nông nghiệp đô thị, ven đô sẵn có, thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh ủy, ủy ban; Ngành nông nghiệp Vĩnh Long, trong đó khuyến nông với vai trò hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật đã giúp đỡ nông dân thực hiện chuyển dịch sản xuất theo hướng đa dạng trên cơ sở phù hợp điều kiện tự nhiên, điều kiện sản xuất, trình độ canh tác của nông dân và đáp ứng nhu cầu thị trường. Hàng loạt mô hình sản xuất nông nghiệp đô thị bước đầu đã được áp dụng có hiệu quả và nhân rộng trên địa bàn tỉnh. Trong đó:
Đối với khu vực đô thị
Xây dựng và chuyển giao các mô hình nông nghiệp đô thị thích hợp trên cơ sở tận dụng hiệu quả quỹ đất nông nghiệp còn lại, sản xuất theo hướng tạo ra các sản phẩm đa dạng và phong phú về chủng loại, loài, phát huy tiềm năng đô thị. Đơn cử như, hiện nay trong các khu vực nội ô, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có dạng hình của nông nghiệp đô thị đã và đang được thực hiện: trồng rau mầm, trồng nấm ăn, trồng hoa trong chậu, bồn, trên giàn, trong nhà lưới, nuôi cá cảnh, … bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, góp phần định hướng cho việc chuyến đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp các điều kiện của đô thị.
Mô hình trồng hoa phong lan: cho lợi nhuận đạt trên 3,1 triệu đồng/5.000 cây/tháng, đã góp phần cung ứng sản phẩm hoa tươi tại chỗ tăng lợi thế cạnh tranh về giá với các sản phẩm cùng loại đến từ các địa phương khác.
Mô hình cơ giới hóa hệ thống tưới tự động trên lan: tiết kiệm được 50% chi phí tiền điện và lượng nước tưới cũng giảm trên 50% nên mỗi năm tiết kiệm được số tiền hơn 3 triệu đồng/hộ sản xuất.
Mô hình trồng Kim Thanh Mai nguyên liệu và Bonsai: cây nguyên liệu sau khi trồng 1 năm thu lãi từ 25.000 -70.000 đ/cây. Trường hợp tạo được tác phẩm Bonsai mini sẽ thu được lợi nhuận cao hơn.
Mô hình trồng hoa Đồng Tiền: lợi nhuận 13.675.000 đồng/điểm/6 tháng, vượt trội hơn so với trồng một số loại hoa khác, tạo thêm hướng phát triển mới trong sản xuất nông nghiệp đô thị tại địa phương.
Mô hình trồng rau sạch tại hộ gia đình: cho năng suất bình quân đạt 30kg/điểm/2 tháng, không những giúp người dân có được nguồn rau sạch cho gia đình, còn giúp giải tỏa căng thẳng sau những giờ làm việc áp lực.
Mô hình hoa kiểng và rau màu chất lượng cao: cung ứng sản phẩm hoa kiểng và rau màu chất lượng cao cho nông nghiệp đô thị từng bước hình thành và quảng bá làng hoa kiểng và sản phẩm rau màu có thương hiệu của Vĩnh Long.
Mô hình nuôi rắn ri voi sinh sản và thương phẩm: với nhiều kiểu nuôi được áp dụng như: nuôi trong khạp, trong lưới, trong bể xi-măng, trong ao đất,… hiện nhu cầu thị trường cao và ổn định, đã giúp người nuôi thu lợi nhuận 4.000.000 đồng/điểm.
Mô hình nuôi ba ba thương phẩm: lợi nhuận thu được 7.940.000đ/điểm, đã góp phần phát triển nguồn lợi ba ba bản địa, đa dạng hóa giống loài trong hệ thống giống thủy sản nuôi nước ngọt tại các khu nông nghiệp đô thị.
Mô hình nuôi cá chép Nhật: lợi nhuận 5.220.000 đ/điểm (3.000 con). Đây là loại cá cảnh rất dễ nuôi và có đầu ra ổn định cho người nuôi.
Đối với khu vực ven đô thị
Chú trọng công tác dạy nghề tại các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh (trong đó có các khu vực ven đô), với các chuyên đề: kỹ thuật trồng rau mầm; trồng rau an toàn theo hướng VietGAP, trồng hoa phong lan; trồng cây ăn trái, nghệ thuật kiểng cổ: Bonsai; kỹ thuật trồng & ghép mai; thiết kế tiểu cảnh, hoa viên, sân vườn; kỹ thuật nuôi rắn ri voi,... đã tạo điều kiện xây dựng và hình thành các mô hình: Rau, màu an toàn cung cấp cho các khu vực nội ô; Mô hình nông nghiệp đô thị (hoa, cây kiểng,nấm rơm trong nhà…) kết hợp du lịch sinh thái, cây ăn trái sinh cảnh, nuôi thuỷ sản và dịch vụ giống thuỷ sản; Để gia tăng thu nhập, đồng thời tạo cơ hội cho đầu ra của nông sản hàng hóa mang thương hiệu Vĩnh Long. Qua đó nổi bật là các mô hình:
Mô hình trồng nấm rơm trong nhà: chủ động phát triển sản xuất quanh năm do kiểm soát và điều chỉnh được các yếu tố kỹ thuật theo yêu cầu sinh trưởng của nấm, mô hình cho lợi nhuận: 12,38 triệu đồng/nhà 18 m2/vụ, và được đánh giá là một trong các mô hình rất thích hợp với nông nghiệp đô thị.
Mô hình rau, màu an toàn thực phẩm ở các khu vực ven đô: lợi nhuận bình quân 11,62 triệu đồng/ha, đã và đang cung cấp nguồn thực phẩm xanh thường xuyên tại chỗ và cho các chợ, siêu thị trong nội ô thị trấn, thị xã và thành phố của tỉnh. Điển hình như các mô hình sản xuất rau an toàn tại các HTX rau Phước Hậu (huyện Long Hồ), HTX rau Thành Lợi (huyện Bình Tân); Các mô hình khuyến nông “CĐM sản xuất khoai mỡ, đậu nành, mè ATTP” tại các vùng ven nội ô thành phố Vĩnh Long,…
Mô hình đầu tư và phát triển cây ăn trái thủy sản, theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với du lịch sinh thái: bao gồm tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch miệt vườn gắn với nuôi trồng thủy sản ở 4 xã cù lao nằm ven thành phố Vĩnh Long (An Bình, Bình Hòa Phước, Đồng Phú, Hòa Ninh); Song song với thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng các vùng cây ăn trái đặc sản theo các tiêu chuẩn GAP nằm ở các khu vực ven đô của tỉnh như bưởi Năm Roi, Mỹ Hòa, TX Bình Minh (SX theo globaiGAP); Cam Sành, Bình Ninh, Tam Bình và Xoài tứ quý, Tân Phú, Tam Bình (SX theo VietGAP). Bên cạnh các loại cây ăn trái đặc sản nêu trên, tỉnh còn quan tâm phát triển các giống và chủng loại cây ăn trái có khả năng cạnh tranh lâu dài với các nước trong khu vực như sầu riêng (Ri 6, Chín Hóa), bưởi Da Xanh, cam Sành, quýt đường, xoài (Hòa Lộc), nhãn Ido, các chủng loại nhãn, chôm chôm, ….
Mô hình hoa và cây kiểng, cây thế ven trục lộ giao thông ở các thị trấn: đạt doanh thu trên dưới 500 triệu đồng/cơ sở, điển hình như cơ sở kinh doanh kiểng, lan, cây giống Mười Phúc ở huyện Trà Ôn, tổ hợp kinh doanh mai vàng ghép Tân An Luông huyệnVũng Liêm; Làng mai vàng Phước Định huyện Long Hồ, … (Còn tiếp)