1. Thực trạng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển
Rừng phòng hộ ven biển
Đến nay, có thể khẳng định rằng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) không còn là những dự báo nữa mà đã tác động trực tiếp đến nhiều địa phương trong cả nước, dưới tác động của biến đổi khí hậu đã làm cho bão, lũ, hạn hán, tình hình xâm nhập mặn, các hiện tượng thời tiết cực đoan,... diễn ra ngày càng gay gắt, phức tạp hơn, cường độ và tần suất xuất hiện cao hơn, gây nhiều khó khăn cho công tác dự tính, dự báo và xây dựng lịch thời vụ phù hợp cho từng loại cây trồng, vật nuôi và từng vùng miền; gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân vùng đồng bằng ven biển, mà theo đánh giá của các nhà khoa học thì Quảng Nam là một trong những tỉnh ven biển miền Trung bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH. Vì vậy, việc đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh ta nói chung và rừng ngập mặn, phòng hộ ven biển nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Những năm trước đây, Quảng Nam đã thu hút được các dự án trồng rừng ven biển do tổ chức JICA tài trợ (Dự án PACSA, JIBIC,...), tổ chức trồng mới hàng ngàn ha rừng tập trung và hàng triệu cây phân tán; các mô hình sản xuất kết hợp với quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả; đầu tư công trình phúc lợi xã hội như cầu, đường, trường học, trạm xá,…. rất lớn đã kích thích người dân tham gia trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng được tốt hơn, qua đó tạo công ăn việc làm, góp phần cải thiện và nâng cao thu nhập cho người dân vùng ven biển. Mặc dù, rừng trồng ven biển sinh trưởng, phát triển có chậm so với các vùng khác do đất vùng cát kém dinh dưỡng, khô kiệt, ẩm độ thấp,... nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong phòng hộ bảo vệ môi trường, chống cát bay, cố định bãi bồi, đặc biệt là giữ vững sự cân bằng sinh thái vùng cửa sông ven biển; giảm thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đời sống sinh hoạt của người dân vùng đồng bằng ven biển.
2. Nguyên nhân làm ảnh hưởng đến phát triển rừng phòng hộ ven biển
Trong vài năm trở lại đây, do áp lực phát triển công nghiệp, đô thị hóa và nhu cầu đất sản xuất, mở rộng diện tích mặt nước đầu tư nuôi trồng thủy sản để cải thiện sinh kế của người dân ở các địa phương ven biển. Cho nên công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển đã gặp những thách thức rất lớn như: (1) Tỉnh có chủ trương quy hoạch phát triển đô thị ở các địa phương vùng Đông của tỉnh nên công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển trong những năm qua ít được quan tâm đầu tư; (2) Ý thức về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của một bộ phận nhỏ dân cư còn chưa cao nên còn xảy ra hiện tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để nuôi tôm và các đối tượng nuôi khác, nên diện tích rừng hằng năm có xu hướng giảm dần; (3) Ảnh hưởng của ngành lâm nghiệp trong công tác cải thiện sinh kế cho người dân sống ven biển chưa cao; thu nhập từ nghề rừng còn quá thấp và không ổn định.
- Nhận thức đầy đủ về lợi ích nhiều mặt của rừng phòng hộ ven biển; chưa đánh giá đúng các giá trị môi trường sinh thái của rừng đem lại trong cộng đồng, cho nên chưa có sự quan tâm đầu tư đúng mức; thậm chí có xu hướng quan tâm đầu tư phát triển công nghiệp, đô thị hơn là phát triển rừng phòng hộ ven biển, về lâu dài chiến lược phát triển này vẫn còn ẩn chứa những mối nguy hiểm. Vì vậy, trong tương lai bên cạnh việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng hiện có thì cần phải đầu tư phát triển trồng rừng; nghiên cứu và xây dựng các kịch bản ứng phó phù hợp.
- Diện tích đất của từng hộ gia đình ít và manh mún, công tác giao đất giao rừng chưa triển khai thực hiện triệt để do đó người dân chưa thật sự an tâm đầu tư; chưa có chính sách khuyến khích đầu tư để trồng và quản lý bảo vệ rừng và lợi nhuận từ việc kinh doanh rừng thấp; chu kỳ kinh doanh cây rừng dài (từ 15 – 20 năm mới có thu hoạch) cho nên chưa tạo được lực hấp dẫn cho người dân đầu tư trồng rừng so với nuôi trồng thủy sản;
- Diện tích quy hoạch để phát triển rừng, nhất là vùng phòng hộ rất xung yếu còn có những vuông tôm mà hiện tại khó có thể vận động người dân chuyển sang trồng rừng được; hoặc người dân đang trồng cây màu cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng rừng. Trong khi đó, năng lực cán bộ lâm nghiệp cấp huyện và xã thiếu so với yêu cầu; công tác khuyến lâm còn hạn chế;
3. Đề xuất một số giải pháp thực hiện
Từ thực trạng và những hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ven biển của tỉnh trong thời gian qua, cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng phó với BĐKH. Chúng ta cần phải tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để giúp cộng đồng dân cư sống ven biển ứng phó với BĐKH nhằm giảm thiểu những rủi ro trong sản xuất và đời sống sinh hoạt, sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định bền vững, cụ thể như sau:
- Khẩn trương Quy hoạch hệ thống rừng phòng hộ ven biển để phát huy vai trò phòng hộ (chắn sóng, lấn biển, chắn gió chống cát bay...), phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, an toàn cho hệ thống đê biển nhằm bảo vệ môi trường sinh thái một cách ổn định và bền vững, góp phần ổn định phát triển bền vững kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ven biển tỉnh Quang Nam.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư ven biển về những tác động của BĐKH ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội và môi trường; bên cạnh công tác nghiên cứu, xây dựng các kịch bản ứng phó cần thiết thì cần tăng cường công tác quản lý bảo, vệ rừng và phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển. Khi hiểu đầy đủ giá trị và lợi ích nhiều mặt của rừng đem lại thì họ mới quan tâm đầu tư bảo vệ và phát triển rừng được;
- Nghiên cứu và ứng dụng các mô hình sinh kế bền vững cho người dân vùng ven biển nhằm thay thế việc phá rừng để phát triển nuôi trồng thủy sản. Khi thu nhập kinh tế hộ ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ven biển được nâng cao thì việc phá rừng để phát triển nuôi trồng thủy sản mới hạn chế;
- Cần phải xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với thực tiễn cũng như đặc điểm riêng từng vùng, những chiến lược đó phải xuất phát từ những lợi ích lâu dài vì đời sống đại đa số cộng đồng dân cư trong tỉnh đã, đang và sẽ giáp mặt với biển và những tác động khôn lường của BĐKH từ biển mang đến.
Tác động của BĐKH không chỉ riêng cho từng vùng, miền hay một tỉnh nào mà nó đã và đang diễn ra hết sức phức tạp, có tính chất toàn diện và tác động lâu dài không chỉ trong sản xuất mà trên nhiều lĩnh vực, có thể nói tác động của BĐKH là “không có biên giới”. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu về BĐKH của chúng ta cũng “không cần có biên giới”, nghĩa là đối với các tỉnh miền Trung, việc tổ chức các diễn đàn để tăng cường hợp tác giữa các tỉnh trong khu vực để cùng nhau nghiên cứu, đánh giá tác động và đề xuất các giải pháp, kế hoạch hành động liên vùng/liên tỉnh trên nhiều lĩnh vực là hết cực cần thiết nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả ứng phó với BĐKH. Và một trong những giải pháp quan trọng là phải bảo vệ và phát triển rừng, tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng ven biển. Đây là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các địa phương và của cả cộng đồng. Hy vọng rằng, tất cả các tổ chức, cá nhân cùng nhau chia sẻ, có trách nhiệm và bằng những hành động cụ thể nhằm chung tay, góp sức làm cho cuộc sống của chúng ta luôn xanh, sạch và phát triển bền vững.