A+ | A | A-

Những giải pháp canh tác bền vững cho vùng đất dốc Quảng Nam

Người đăng: Quản trị Ngày đăng: 7:37 | 22/04/2015 Lượt xem: 3294

Hiện nay, tình trạng đất canh tác ở các huyện miền núi bị thoái hóa một phần là do điều kiện khí hậu, địa hình đặc trưng của vùng; một phần là do tập quán sản xuất của người dân tại một số ít địa phương miền núi, họ vẫn áp dụng các phương thức canh tác cũ, phương thức sản xuất du canh phát rừng làm rẫy, đặc biệt là chặt phát rừng tự nhiên (có khả năng phòng hộ, giữ nước giữ đất cao hơn so với rừng

Hiện nay, tình trạng đất canh tác ở các huyện miền núi bị thoái hóa một phần là do điều kiện khí hậu, địa hình đặc trưng của vùng; một phần là do tập quán sản xuất của người dân tại một số ít địa phương miền núi, họ vẫn áp dụng các phương thức canh tác cũ, phương thức sản xuất du canh phát rừng làm rẫy, đặc biệt là chặt phát rừng tự nhiên (có khả năng phòng hộ, giữ nước giữ đất cao hơn so với rừng trồng). Đây thực sự là nỗi lo không chỉ trước mắt mà cả lâu dài, không chỉ riêng ở Quảng Nam. Canh tác trên đất có độ dốc từ 25o trở lên và thường bố trí trồng độc canh bằng các loại cây nông nghiệp ngắn ngày (sắn, bắp, lúa rẫy…) thì hiện tượng thoái hóa đất diễn ra ngày càng nhanh hơn và thời gian canh tác hiệu quả là rất ngắn. Bên cạnh một số nguyên nhân như: trình độ khoa học kỹ thuật cuả bà con còn nhiều hạn chế, nhất là việc sản xuất chủ yếu theo phương thức độc canh; thiếu vốn đầu tư, thiếu thông tin, thiếu đất sản xuất… thì một trở ngại lớn nhất hiện nay đó là tập quán sản xuất của họ hầu như chưa áp dụng các biện pháp canh tác bền vững trên đất dốc hoặc phương thức sản xuất nông – lâm kết hợp; chưa có chế độ đầu tư thâm canh hợp lý, không sử dụng phân bón, đặc biệt là họ chưa thu gom và tận dụng được nguồn phân hữu cơ từ chăn nuôi (hầu hết là chăn nuôi thả rông), chưa biết kỹ thuật chế biến các loại cây xanh, các phế phụ phẩm trong nông nghiệp để bón cho cây trồng, chưa nói đến việc tuyên truyền và vận động họ sử dụng phân bón hóa học lại càng khó khăn hơn. Mặt khác, vẫn còn áp dụng phương pháp phát dọn sạch thực bì, cỏ dại và đốt trước khi gieo trồng. Với cách làm này, vô tình khi có mưa sẽ tạo ra dòng chảy bề mặt rất lớn, khả năng giữ đất, giữ nước kém, lượng đất bề mặt và dinh dưỡng trong đất bị rữa trôi nhiều, sạt lở và tất yếu là năng suất cây trồng cũng ngày càng giảm đi, gây thiệt về kinh tế và đời sống của cộng đồng.

Thực hiện Nghị quyết 26 của Ban chấp hành trung ương Khoá X, trong những năm qua, các cấp các ngành của tỉnh Quảng Nam đã không ngừng quan tâm, nỗ lực và đầu tư rất lớn; đề đưa ra các chủ trương, chính sách cụ thể, phù hợp với tập quán sản xuất để đảm bảo sinh kế cho người dân miền núi, đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số được ổn định và bền vững; và đến nay có thể khẳng định rằng những nhận thức, tiến bộ kỹ thuật và tập quán sản xuất của đồng bào thiểu số miền núi đã thật sự có những chuyển biến rất tích cực. Đây cũng chính là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất cho công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay. Tuy nhiên, để thay đổi hẳn tập quán sản xuất cũ của bà con miền núi không phải là một việc làm đơn giản, trong ngày một ngày hai  mà thậm chí phải mất nhiều năm, nhiều thập niên nữa mới có thể thay đổi được. Do đó, trong thời gian vừa qua ở một vài nơi vẫn còn diễn ra tình trạng một số ít hộ gia đình đồng bào thiểu số (tuy con số này là không lớn và chỉ mang tính cục bộ tại một vài địa phương miền núi) sử dụng phương thức sản xuất du canh, phát rừng làm nương rẫy, đầu tư sản xuất được 2÷3 mùa rẫy, khi đó đất bị thoái hóa thì họ bỏ hoang và chuyển sang phát rừng làm rẫy mới là điều khó tránh khỏi. Mặc dù bà con vẫn biết vai trò, ý nghĩa và giá trị của rừng đem lại cho đời sống con người, họ vẫn biết chặt phá rừng là vi phạm pháp luật, nhưng vì áp lực thiếu đất sản xuất để lo cái ăn, cái mặt, lo con cái học hành hằng ngày. Và tất nhiên sau đó UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và PTNT cũng đã có những chỉ đạo các đơn vị cơ sở có các phương án xử lý và chấn chỉnh tình trạng này rất kịp thời và hiệu quả.

Công tác khôi phục, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên rừng được bền vững thì không thể tách rời việc đảm bảo sinh kế cho cộng đồng nông thôn miền núi. Việc này chỉ đạt được hiệu quả cao khi lợi ích từ tài nguyên rừng được chia sẻ và khuyến khích cộng đồng tự nguyện tham gia vào các hoạt động đó. Mặt khác, để thực hiện tốt nhiệm vụ trên thì các giải pháp đề xuất phải đồng bộ, hệ thống, thực thi phù hợp với điều kiện, tập quán sản xuất của từng địa phương và có sự lồng ghép với chiến lược phát triển của vùng nhằm phát huy hiệu quả tổng hợp. Vì vậy, vấn đề cấp bách đặt ra cho ngành nông nghiệp là làm thế nào tìm ra được những giải pháp khoa học công nghệ; ứng dụng, chuyển giao và nhân rộng các tiến bộ khoa học kỹ thuật; mà cụ thể ở đây là giải pháp khoa học nào để canh tác bền vững trên đất dốc ở các huyện miền núi, trung du nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, đa dạng hóa sản phẩm; tăng hệ số sử dụng đất, hạn chế tình trạng phát rừng làm nương rẫy, giảm các rủi ro trong sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một diện tích đất; bảo tồn tính đa dạng sinh học và tăng khả năng bền vững của hệ sinh thái. Đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng, làm nền tảng vững chắc cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Để làm được điều này cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, Cần khuyến khích đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi; chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hóa cây trồng, đưa các loài cây có tính chịu hạn lên vùng đất dốc để tăng thu nhập;

Hai là, Trong thời gian đầu chưa có sản phẩm thu hoạch từ rừng cần phải có cơ chế hỗ trợ lương thực cho bà con ổn định cuộc sống nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào rừng;

Ba là, Cần thực hiện nghiêm túc và ngăn chặn có hiệu quả nạn đốt phá rừng làm nương rẫy, khắc phục tình trạng khai thác lâm sản trái phép làm suy giảm vốn rừng, suy giảm chức năng phòng hộ của rừng, nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến sa mạc hóa. Thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, tăng nhanh tiến độ trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng kinh phí đầu tư, kiên quyết bảo vệ rừng;

Bốn là, Tổ chức điều tra, đánh giá thực trạng tình hình nương rẫy, canh tác trên đất dốc và xây dựng qui hoạch làm nương rẫy cho từng vùng cụ thể nhằm đảm bảo phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp bền vững và dài lâu;

Năm là, Có cơ chế khuyến khích sản xuất nông lâm nghiệp và canh tác nương rẫy cố định, chấm dứt nạn đốt phá rừng làm nương rẫy du canh; ứng dụng biện pháp canh tác bền vững trên đất dốc hoặc sản xuất theo phương thức nông – lâm kết hợp, đây là mô hình canh tác bền vững, phá thế độc canh, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống mới, nâng cao năng suất, chất lượng và đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi;

Sáu là, Phải coi trọng và nâng cao vai trò của công tác khuyến nông, thường xuyên tăng cường công tác chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, xây dựng các mô hình trình diễn canh tác hiệu quả trên đất dốc theo phương thức nông - lâm kết hợp, thực hiện các dự án phát triển nông thôn để giúp bà con sử dụng có hiệu quả và bền vững đất dốc, góp phần quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng.

Tác giả: Nguyễn Hữu Phước

Nguồn tin: Sơ Nông nghiệp và PTNT Quảng Nam

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn: