A+ | A | A-

Hướng dẫn sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2014 - 2015

Người đăng: Quản trị Ngày đăng: 14:44 | 02/12/2014 Lượt xem: 18167

Vụ Đông xuân là vụ sản xuất chính trong năm và chiếm tỷ trọng lớn về giá trị, có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của năm nông nghiệp. Để giúp nông dân chủ động trong việc sản xuất lúa Đông xuân 2014-2015, chúng tôi giới thiệu cho bà con một số biện pháp kỹ thuật cần lưu ý như sau:

I. Về lịch thời vụ và cơ cấu giống

1. Đối với chân Ruộng chủ động nước tưới

- Thời vụ sản xuất Đông Xuân 2014 – 2015, bố trí gieo sạ cho lúa trổ từ ngày 20/3 đến ngày 5/4, trổ tập trung từ ngày 25/3 đến ngày 31/3, thu hoạch xong trước ngày 5/5.

- Riêng vùng sử dụng nước của kênh chính Bắc Phú Ninh và Khe Tân, cho lúa trổ từ 15/3 đến 25/3 để cắt tu sữa kênh mương từ ngày 10/4/2015, cấp lại ngày 25/5/2015.

* Lịch gieo sạ cụ thể như sau:

a. Các vùng sử dụng nước tưới không thuộc nguồn nước kênh chính Bắc Phú Ninh và Khe Tân.

- Nhóm giống chủ lực (cơ cấu tối thiểu 60% diện tích)

+ Nhóm giống có TGST từ 105-115 ngày, gồm các giống: TBR45, OM4900 gieo sạ từ ngày 01 - 10/01/2015; trổ rộ trước – sau ngày 25/3.

- Nhóm giống có TGST dưới 105 ngày, gồm các giống lúa thuần HT9 (HT1), PC6 và giống lúa lai Xuyên Hương 178: gieo sạ từ 05-10/01/2015; trổ rộ trước – sau ngày 20/3

- Nhóm giống bổ sung (cơ cấu tối đa 30% diện tích)

+ Nhóm giống có TGST trên 115 ngày gồm các giống thuần Xi23, 13/2 và giống lai Nhị ưu 838 gieo sạ từ ngày 25 - 31/12/2014; trổ rộ trước – sau ngày 31/3.

+ Nhóm giống có TGST từ 105 - 115 ngày gồm các giống thuần BC15 và giống lai CNR6206 gieo sạ từ 01- 10/01/2015; trổ rộ trước – sau ngày 25/3.

+ Nhóm giống có TGST dưới 105 ngày gồm các giống thuần OM6976, Khang dân 18, ĐV 108 và các giống lai Syn6, TH3-5 (TH3-3) gieo sạ từ ngày 05-10/01/2015; trổ rộ trước – sau ngày 20/3.

- Nhóm giống triển vọng (cơ cấu tối đa 10% diện tích)

Thiên ưu 8, Q.Nam 6, N04-05 (Q.Nam 9), OM 8017, BM 125, TEJ vàng (105 – 115 ngày), SV47, SV181 (dưới 105 ngày).

Ngoài ra, tùy điều kiện đặc thù từng vùng có thể sử dụng các giống lúa đã có trong cơ cấu trước đây.

b. Vùng sử dụng nước tưới kênh chính Bắc Phú Ninh và Khe Tân, dùng giống trung và ngắn ngày sạ trong hai trà.

- Nhóm giống trung ngày (105-115 ngày): sạ từ 25-31/12/2014.

- Nhóm giống ngắn ngày (dưới 105 ngày): sạ từ 01-05/01/2015.

Vùng có tập quán dùng giống dài ngày, phải quy hoạch theo cánh đồng và sạ sớm từ 15-20/12/2014 để lúa trổ xong trước 25/3.

c. Các huyện miền núi cao:

Tùy từng tiểu vùng, Phòng Nông nghiệp & PTNT quy định cụ thể lịch thời vụ và cơ cấy giống, bố trí sạ cùng trà hoặc sớm hơn 5-7 ngày theo từng loại giống để lúa trổ trể hơn 4-5 ngày so với lịch chung, kịp sản xuất Hè Thu 2015 theo lịch chung cả tỉnh.

* Đối với cơ cấu giống: Bà con lưu ý tập trung cho những giống lúa nhóm trung (105 -115 ngày) và ngắn ngày (dưới 105 ngày). Vì qua thực tiễn sản xuất, các giống trung và ngắn ngày năng suất không tua kém các giống dài ngày. Trong khi các giống lúa dài ngày khó bố trí sản xuất, dễ rủi ro do những yếu tố bất lợi của thời tiết. Tuy nhiên, đối với những giống trung và ngắn ngày bà con chú ý kỹ thuật bón phân; bón nặng đầu, nhẹ đua, bón phân lót đầy đủ, bón thúc lần 1 kết hợp với tỉa dặm sớm 10-12 ngày sau sạ; bón thúc đòng sớm hơn giống dài ngày (ngắn ngày 45-50 ngày, trung ngày 55-60 ngày.

2. Ruộng không chủ động nước tưới:

         - Chân ruộng cao cần chuyển sang tỉa ngô, lạc, mè, khoai lang, rau đậu vụ Đông Xuân sớm, sắn ngắn  ngày.

         - Chân ruộng thấp, sử dụng giống CH207 sạ đầu tháng 12, PC6, P6 đột biến sạ hạ tuần tháng 12 để lúa trổ vào đầu tháng 3.

III. Phân bón và cách bón

1. Lượng bón: Tính cho 1 sào 500m2

ĐVT: kg

Loại phân

Lúa lai

Lúa thuần

(trung, ngắn ngày)

Phân chuồng

400-500

350-400

 

Vôi

20-30

20-30

 

Lân nung chảy

20-25

15-20

 

Urê

10-11

8-9

 

Kali (KCl)

6-7

5-6

 

NPK (16:16:8)

7-8

6-7

 

2. Cách bón :

- Vôi bón khi cày lật đất, lân bón lót trước khi san phẳng mặt ruộng để sạ.

- Bón thúc sớm quyết định đến năng suất các giống lúa trung, ngắn ngày; phải bón lần 1 kịp thời lúc 10-12 ngày sau sạ, kết hợp tỉa dặm sớm.

- Bón phân lúc sáng sớm hay chiều mát, khi ruộng có nước, kết hợp làm cỏ ục bùn để vùi phân, hạn chế mất đạm và phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.

- Đối với đất xám, cát pha thì tổng số lượng bón ure và kali cao hơn đất phù sa bồi 01kg/sào.

- Có thể qui đổi phân đơn bằng phân NPK chuyên dùng. Tăng cường sử dụng phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh, đạm xanh (Ure trộn 7% NEB 26), để giảm bớt lượng phân khoáng hóa học.

Cách bón

Giống lúa

Thời

điểm bón

Lúa thuần (trung và ngắn ngày)

Lúa lai

Bón lót

Trước khi làm đât lần cuối

(Vôi bón khi cày ải).

Toàn bộ phân chuồng + Lân + 3-4 kg NPK

Bón thúc

Lần 1

(Sau sạ 10-12 ngày)

3-4 kg Ure + 2kg Kali

3-4 kg Ure + 2kg Kali

Lần 2

(Sau sạ 20-25 ngày)

3 kg Ure + 3kg NPK

3 kg Ure + 4kg NPK

Bón đòng

Sau sạ 55-60 ngày (với giống trung ngày)

Sau sạ 45-50 (Với giống ngắn ngày)

2 kg Ure + 3-4 kg Kali

2 kg Ure + 2-3 kg Kali

Lưu ý: Giống dài ngày và lúa lai bón lần 3 lúc 35-40 ngày 2kg Ure và 2kg Kali

IV. Chăm sóc và quản lý dịch hại

- Cày lật đất sớm, đắp bờ giữ nước để hoai mục gốc rạ, cỏ dại, hạn chế sâu bệnh. Bón đủ vôi, phân chuồng; dùng chế phẩm vi sinh (như Trichoderma) ủ lá cây (với miền núi), rơm rạ (với đồng bằng) tại bờ ruộng để làm phân

- Xử lý hạt giống bằng nước vôi trong; ruộng đủ nước, trời không lạnh phun thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm; gặp lạnh hoặc nước khó khăn, phun thuốc hậu nẩy mầm; kết hợp dùng công cụ sục bùn trừ cỏ khi tỉa dặm, cắt bỏ bông cỏ trên ruộng.

Sạ cùng trà, cùng nhóm giống trong từng cánh đồng; áp dụng quy trình canh tác "3 giảm, 3 tăng”; ”1 phải 5 giảm"; mỗi sào sạ hàng với 1-1,2 kg giống lúa lai; 2-2,5 kg giống lúa thuần.

- Tưới nước tiết kiệm: Tưới "ướt khô xen kẻ", giúp đất thông thoáng, rễ lúa ăn sâu, huy động tốt dưỡng chất, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Quy trình: Giữ đủ nước từ mọc mầm đến bón thúc lần 1; để tự khô và tưới lại trước khi bón thúc lần 2; để tự khô đến làm đòng, chỉ tưới lại khi mặt ruộng khô nứt chân chim; giữ đủ nước từ làm đồng đến vào chắc xanh.

- Thường xuyên thăm đồng, phát hiện kịp thời sâu bệnh để phòng trừ phù hợp, hạn chế tối đa phun thuốc trừ sâu sau 30 ngày sạ. Đối với giống nhiễm bệnh đạo ôn cần phun phòng trước hoặc sau lúa trỗ 5-7 ngày; đối với ruộng bị rầy nâu, rầy lưng trắng phun khi mật độ rầy 2-3 con/dãnh (trên 2.000 con/m2), khi phun ruộng phải có nước, vạch gốc lúa và phun kỹ vào phần gốc, phun bao vây từ ngoài vào trong ruộng.

- Ngay từ đầu vụ phải vệ sinh đồng ruộng; diệt chuột, ốc bươu vàng, cây Mai Dương.

Tác giả: Phan Văn Phước

Nguồn tin: Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư Quảng Nam

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn: