Giới thiệu một số giống lạc mới
1. Sự cần thiết của giống lạc tốt trong sản xuất:
Cây lạc (còn gọi là cây đậu phụng) là cây trồng truyền thống của nông dân Quảng Nam và là cây trồng có diện tích đứng thứ 3 sau cây lúa và cây ngô. Hiện toàn tỉnh có khoảng 10.000 ha lạc, là một tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất khu vực Duyên Hải Nam trung Bộ. Tiềm năng diện tích lạc của Quảng Nam còn có thể mở rộng hơn nữa nhờ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng đang được đẩy mạnh (theo số liệu của Viện cây lương thực, thực phẩm thì riêng Quảng Nam diện tích cây lạc có thể phát triển trên 20.000 ha). Cây lạc còn là một trong rất ít loài cây trồng có đầu ra tốt và ổn định trong nhiều năm liền. Diện tích trồng lạc tập trung chủ yếu ở vụ Đông Xuân (chiếm từ 80 – 83 % diện tích); lạc ở vụ Hè, Hè Thu phần lớn diện tích được phân bổ ở vùng trung du, miền núi. Chủ yếu sản xuất bằng giống lạc sẻ Tây Nguyên - giống này có năng suất thấp và có những biểu hiện của thoái hóa giống như: độ đồng đều kém, nhiễm nặng bệnh chết ẻo (cả hai loại là héo xanh vi khuẩn và lở cổ rễ)...
Mặc khác, tỉnh ta có nhiều diện tích đất lúa không chủ động nước, sản xuất kém hiệu quả cần được chuyển đổi, những diện tích đất bị nhiễm mặn, nhất là vụ Hè, Hè Thu. Những vùng này chuyển sang trồng lạc ít tốn nước tưới lại cho hiệu quả cao hơn gấp 1,5 – 2 lần so với làm lúa, là cây trồng xóa đói, giảm nghèo cho bà con nông dân, đặc biệt là vùng khó khăn.
Chính vì vậy, việc lựa chọn giống lạc mới vừa là mục tiêu vừa là một biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và phẩm chất hạt lạc trong sản xuất vừa là biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp trên cây lạc.
2. Giới thiệu một số giống Lạc mới
2.1. Giống lạc L14.
Nguồn gốc: Tác giả: ThS. Nguyễn Văn Thắng, TS. Nguyễn Thị Chinh, TS. Nguyễn Xuân Hồng, VS. TSKH. Trần Đình Long, TS. Hoàng Minh Tâm, KS. Nguyễn Thái An – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm.
Giống lạc L14 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dòng lạc QĐ5 từ tập đoàn lạc nhập nội của Trung Quốc. Giống được công nhận chính thức là giống TBKT theo Quyết định số 5310/BNN- KHKT ngày 29 tháng 11 năm 2002.
Thời gian sinh trưởng :
+ Vụ đông xuân: 98 -100 ngày.
+ Vụ hè thu: 90 - 95 ngày.
Đặc điểm sinh vật học và khả năng chống chịu các loại sâu, bệnh chính hại lạc của giống L14.
+ Giống L14 kháng nhẹ đối với bệnh chết ẻo (héo xanh) vi khuẩn và bệnh đốm lá.
+ Thân đứng, lá xanh đậm, khả năng phân cành và tỷ lệ cành hữu hiệu cao, tỷ lệ trái 2 hạt đạt trên 90%.
+ Vỏ quả rằn, vỏ lụa màu hồng, chịu thâm canh.
+ Khối lượng 100 quả khoảng 140-145 gam, khối lượng 100 hạt khoảng 61,0 gam và tỉ lệ nhân/quả khoảng 70%.
+ Năng suất ở điều hiện thâm canh trong vụ đông xuân biến động từ 42-47 tạ/ha và trong vụ hè từ 32 - 36 tạ/ha.
2.2. Giống lạc LDH01.
Giống lạc LDH.01 được Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn lọc từ đột biến tự nhiên của giống lạc Lỳ địa phương.
Giống lạc LDH.01 có dạng cây thuộc loại hình nửa đứng, lá màu xanh nhạt, eo quả trung bình, vỏ quả có gân không rõ ràng, vỏ quả mỏng, kích cỡ hạt trung bình (khối lượng 100 hạt bình quân 56,8 gam), tỷ lệ nhân/quả cao (bình quân 76,5%), khối lượng quả lớn (khối lượng 100 quả khoảng 142,2gam), tỷ lệ quả 3 hạt chiếm trên 40%.
Thời gian sinh trưởng từ 90 - 100 ngày tùy theo thời vụ và vùng sinh thái. Thời gian sinh trưởng tương đương với giống lạc Lỳ hiện đang sản xuất đại trà ở Nam Trung bộ và Tây nguyên.
Khả năng kháng bệnh (đốm nâu, gỉ sắt, chết xanh do nhiều nguyên nhân) của giống lạc LDH.01 kém hơn so với các giống MD7, L14, LVT, nhưng tương đương hoặc tốt hơn so với giống giống lạc Lỳ .
Năng suất bình quân của giống lạc LDH.01 trong thí nghiệm so sánh chính quy là 37,9 tạ/ha cao hơn so với lạc Lỳ 24,7%. Năng suất bình quân của giống lạc LDH.01 tại các điểm khảo nghiệm thuộc vùng sinh thái Tây Nguyên là 36,1 tạ/ha, trên đất phù sa vùng Duyên hải Nam Trung bộ là 34,6 tạ/ha và trên đất cát ven biển vùng Duyên hải Nam Trung bộ là 28,5 tạ/ha.
2.3. Giống lạc TB25:
Giống lạc TB25 do công ty CP giống cây trồng Thái Bình chọn tạo từ tập đoàn giống lạc nhập nội, tiến hành công tác chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể. Giống lạc TB25 gốc thân màu tím, lá màu xanh đậm, hình elip. Giống lạc TB25 sinh trưởng phát triển khỏe có 5 – 6 cành cấp 1, thời gian sinh trưởng ngắn: vụ Đông xuân 95 – 110 ngày, vụ Hè Thu 85 – 90 ngày.
Giống lạc TB25 dạng quả chuối, eo quả nông, tỷ lệ hạt 3 – 4 quả cao, vỏ quả sáng, vỏ lụa màu trắng hồng, dạng hạt hình trụ. Năng suất vụ đông xuân đạt 40 – 45 tạ/ha, vụ thu đông đạt 25 – 30 tạ/ha. Khối lượng 100 quả đạt 150 – 160 gam, tỷ lệ quả 3- 4 hạt đạt 60 – 70%, tỷ lệ nhân 70 -72%. Giống lạc TB25 chống chịu bệnh rỉ sắt, bệnh thối đen cổ rễ và héo xanh vi khuẩn khá hơn một số giống đang phổ biến hiện nay.
4. Giống lạc L23:
Nguồn gốc: Tác giả và cơ quan tác giả: TS. Nguyễn Thị Chinh, ThS. Nguyễn Văn Thắng ; TSKH. Trần Đình Long ; KS. Nguyễn Xuân Thu ; ThS. Phan Quốc Gia ; KS. Nguyễn Thị Thuý Lương và KS. Nguyễn Xuân Đoan - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ-Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm.
Nguồn gốc và phương pháp: Giống lạc L23 được chọn ra từ nguồn thu thập năm 2001. L23 được công nhận cho sản xuất thử năm 2008 theo Quyết định số 111/QĐ-TT-CCN ngày 03 tháng 6 năm 2008.
Thời gian sinh trưởng :
+ Vụ đông xuân : 95 -100 ngày ; Vụ hè thu : 90 - 95 ngày.
Đặc điểm sinh vật học và khả năng chống chịu các loại sâu, bệnh chính hại lạc của giống L23.
+ Giống L23 kháng nhẹ đối với bệnh chết ẻo (héo xanh) vi khuẩn và bệnh đốm lá.
+ Thân đứng, lá xanh đậm từ giai đoạn 3 lá cho đến khi thu hoạch, khả năng phân cành và tỷ lệ cành hữu hiệu cao, tỷ lệ trái 2 hạt đạt trên 90%.
+ Vỏ quả rằn, khối lượng 100 quả khoảng 170 gam, khối lượng 100 hạt khoảng 65,0 gam và tỉ lệ nhân/quả khoảng 75%.
+ Năng suất ở điều hiện thâm canh trong vụ đông xuân biến động từ 35 - 45 tạ/ha và trong vụ hè từ 30 - 37 tạ/ha.