
I. ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG AO NUÔI
1. Chọn địa điểm xây dựng ao nuôi
Ao nuôi tôm càng xanh thường được xây dựng ở nơi có nguồn nước ổn định, như: pH 7-8, nhiệt độ 26-320C và Oxy hòa tan > 3mg/L. Đặc biệt là không bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp hay hóa chất trong nông nghiệp. Những khu vực nguồn nước bị nhiễm mặn nhẹ (thấp hơn 10%o) vẫn có thể nuôi tôm càng xanh.
2. Tính chất đất
Một trong những tính chất quan trọng nhất của đất đối với ao nuôi là tính giữ nước và không sinh phèn. Đất sét, thịt pha sét đều đảm bảo được chức năng giữ nước.
3. Nguồn giống
Có hai nguồn giống tôm càng xanh là giống tự nhiên và giống nhân tạo. Hiện nay, nguồn giống tự nhiên vẫn còn chiếm vai trò quan trọng trong nuôi tôm càng xanh. Khi thả nuôi, tôm giống tự nhiên cần phân nhóm theo kích cở (3-5g, 6-8g và 9-12g). Mục đích phân cở là giảm hiện tượng ăn nhau và tranh giành thức ăn trong quá trình nuôi.
* CÁC HÌNH THỨC NUÔI TÔM CÀNG XANH
Hiện nay tôm càng xanh có thể nuôi theo các hình thức, như: nuôi trong ao (nuôi đơn hay nuôi kết hợp với cá) và nuôi trong ruộng lúa.
II. KỸ THUẬT NUÔI TÔM CÀNG XANH TRONG AO
1. Công trình ao nuôi
Hình dạng và kích cở ao nuôi: ao thường có hình chữ nhật, kích thước thích hợp và phổ biến là 0,2-0,6 ha. Mức nước thích hợp từ 0,8-1,2m. Bờ ao chắc chắn, không rò rỉ, không hang hốc làm nơi trú ẩn cho các sinh vật hại tôm. Mặt bờ rộng ít nhất là 2m nhằm giúp cho việc đi lại chăm sóc tôm thuận lợi. Độ nghiêng đáy ao từ 3-5%.
Cống: Mỗi ao nuôi cần có 2 cống: cống cấp và cống thoát nước
2. Chuẩn bị ao
Trong nuôi tôm, công việc chuẩn bị ao nuôi đóng vai trò rất quan trọng, Các bước chuẩn bị ao như sau:
Vệ sinh ao: sau mỗi vụ nuôi, ao nhất thiết phải được sên vét lớp bùn đáy ao, nên loại bỏ hết lớp bùn lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc.
Phơi đáy ao: ao cần phơi khô đáy 2-7 ngày, công việc này giúp oxy hóa các vật chất hữu cơ còn lại ở đáy đồng thời giải phóng các khí độc như H2S, NH3, CH4... ở đáy ao.
Kiểm tra pH đất đáy ao: việc này giúp xác định đúng lượng vôi sử dụng nhằm nâng pH nước lên cao nếu cần.
Trong trường hợp có cá tạp xuất hiện trong ao thì phải diệt trước khi đưa đủ nước để thả giống. Bột trà (chứa saponine 10-13%) dùng 20 g/m3 , hay dây thuốc cá (chứa retenone) dùng 4 g/m3. Tuy nhiên, tính độc của saponine và retenone xảy ra mạnh ở nhiệt độ cao vì vậy nên chọn thời điểm phù hợp để diệt. Một ngày sau khi sử dụng hóa chất thì tiếp tục lấy nước vào (qua lưới mịn) đến khi mức nước đạt 0,7-0,9m, khi màu nước đạt yêu cầu và độ trong đạt 30-40cm thì có thể tiến hành thả tôm nuôi.
3. Thả giống nuôi
Tùy theo kích cỡ giống và cách thức nuôi (nuôi đơn hay nuôi kết hợp) và mức độ thâm canh mà mật độ thả có khác nhau.
Trong nuôi đơn: tôm càng xanh giống tự nhiên (3-5g/con) có thể thả ở mật độ 4-6 con/m2, còn với tôm giống nhân tạo cỡ (0,5g/con) thì thả 10-15 con/m2.
Trong trường hợp nuôi kết hợp với cá (như chép, rô phi, mè trắng, mè vinh...) thì mật độ thả từ 2-3 con/m2 đối với giống tự nhiên, và 8-10 con/m2 đối với giống nhân tạo. Mật độ thả cá dao động từ 2-3 con/m2 tính chung cho các loài cá.
Hiện nay, trong nuôi tôm càng xanh việc thả giống đơn tính (toàn đực) cũng đang được chú ý bởi lẽ tôm đực lớn nhanh và cho sản lượng cao. Tuy nhiên, việc tách đàn tôm đực và cái đối với tôm kích cỡ nhỏ thường không dễ dàng thực hiện. Có thể thả nuôi chung đực và cái và sau 3-4 tháng nuôi tôm cái sẽ mang trứng, trong trường hợp này thu tôm cái bán và giữ lại tôm đực nuôi tiếp.
4. Quản lý ao nuôi
Thức ăn và cho ăn: có thể sử dụng 2 dạng thức ăn đó là thức ăn viên và thức ăn tươi sống. Mặc dù, hiện nay thức ăn tươi được dùng chủ yếu nhưng thức ăn viên hay thức ăn tự chế bổ sung cho tôm càng xanh cũng rất quan trọng nhằm bổ sung các vật chất cần thiết cho tôm.
Thức ăn cho tôm theo giai đoạn tăng trưởng
|
Tháng tuổi
|
Lượng thức ăn (% trọng lượng thân)
|
|
1
2
3
4
5 trở đi
|
30
15
10
8
5
|
Khi cho tôm ăn cũng cần dựa vào một số yếu tố khác bên cạnh việc ước lượng theo đàn tôm trong ao để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp như (i) căn cứ vào chất lượng môi trường ao nuôi, ao dơ hay những ngày mưa lớn nên giảm lượng thức ăn; (ii) kết hợp sàng ăn và rãi thành nhiều điểm trong ao để có thể đánh giá đúng thức ăn tôm sử dụng; (iii) cho tôm ăn hơi thiếu vẫn tốt hơn là thừa.
Tôm ăn thức ăn là do mùi (cơ quan xúc giác) chứ không phải thấy. Ở giai đoạn nhỏ (1 tháng đầu sau khi thả) tôm bắt được thức ăn qua bơi lội và hầu hết là thức ăn tư nhiên (Plankton). Giai đoạn này cơ quan xúc giác phát triển chưa đầy đủ nên chúng chưa thể tìm mồi tốt, thức ăn cần rãi khắp ao, cũng có thể trộn thức ăn chế biến và tươi sống để gây mùi. Các giai đoạn tiếp theo cơ quan thính giác của tôm phát triển hoàn chỉnh và tự đi tìm thức ăn được nên có thể cho tôm ăn ở những điểm nhất định trong ao.
Theo dõi tăng trưởng và tình trạng sức khoẻ tôm: do đặc tính của tôm lớn lên là là nhờ lột xác và chu kỳ lột xác tuỳ thuộc vào kích cỡ và điều kiện môi trường sống. Kể từ 1,5 tháng tuổi trở đi, hàng tuần phải theo dõi sự sinh trưởng (tính đồng đều) của tôm bằng sàng ăn, chài và kết hợp với chu kỳ lột xác để có thể kích thích tôm lột xác đồng loạt và thay đổi thức ăn, khẩu phần ăn phù hợp.
5. Quản lý chất lượng môi trường nước ao nuôi
Hàm lượng oxy hòa tan: trong ao nuôi tôm hay trong ao nuôi thủy sản nói chung thì lượng oxy hòa tan trong nước có được do quá trình quang hợp của tảo, xâm nhập từ không khí vào và trao đổi nước ao. Tuy nhiên, lượng oxy trong ao thường không ổn và dao động lớn giữa ngày và đêm. Trong ao oxy mất đi là do sự hô hấp của tôm cá, tảo vào ban đêm và quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ. Oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 3,5mg/l.
Duy trì tốt lượng oxy trong ao có thể là nhờ quá trình trao đổi nước thường xuyên, mặt ao thoáng giúp cho quá trình khuếch tán oxy từ môi trường không khí vào dễ dàng nhờ sóng gió và cần lưu ý điều chỉnh lượng phiêu sinh vật trong ao để tránh không cân bằng oxy giữa ngày và đêm (theo màu nước).
Quản lý pH nước ao: trong ao nuôi pH luôn luôn có sự biến động theo sự nở hoa của tảo (pH tăng cao khi tảo quang hợp mạnh) và sự phân hủy các hợp chất hữu cơ ở đáy ao (pH thấp tầng đáy), do mưa rửa phèn từ bờ ao xuống hay nguồn nước bị nhiễm phèn (pH thấp). Tất cả sự biến động tăng giảm pH của nước ao nuôi (> 9 hay < 7) luôn có sự ảnh hưởng đến đời sống của tôm. Phương án xử lý là thay nước hay sử dụng vôi điều chỉnh sự thay đổi pH nước trong ao.
Quản lý độ đục và độ trong của nước ao: sau những cơn mưa; nguồn nước lấy vào ao chứa nhiều hạt phù sa làm nước vẩn đục hay sự phát triển quá mức của tảo có thể gây trở ngại đối với tôm nuôi. Có thể làm cho nước trong ao trở nên trong lại bằng cách dùng vôi pha nước và tạt khắp ao để lắng tụ các hạt mùn bã (1kg/100m2).
Quản lý các khí độc: quá trình phân hủy các chất thải của tôm, thức ăn thừa, chất hữu cơ từ ngoài vào, tảo chết...sẽ tạo nhiều chất dinh dưỡng cho ao và cũng tạo nhiều khí độc khác có tác hại đối với tôm mà chủ yếu là khí ở tầng đáy như H2S, NH3,… Quản lý các yếu tố này qua trao đổi nước tích cực sẽ giúp loại bỏ các chất khí độc này ra khỏi ao nhất là tầng nước dưới đáy ao. Ngoài ra, tảo chết cũng sinh ra một lượng khí độc đáng kể. Công việc điều chỉnh mật độ tảo (qua màu nước) không chỉ giúp hấp thu các khí độc mà còn hạn chế phát sinh khí độc.
6. Thu hoạch
Trong nuôi tôm càng xanh, công tác thu hoạch thường được tiến hành một lần vào cuối vụ hay thu tỉa. Công tác thu tỉa rất quan trọng là có thể thu tôm lớn 3 lần trong vụ nuôi. Thu tỉa có thể tiến hành sau 4 tháng nuôi và 6 tuần thu 1 lần. Thu tỉa thường bằng chài hay kéo lưới...