Người “truyền lửa” và sức mạnh liên kết
Nhắc đến phong trào nuôi lươn không bùn tại Vu Gia, bà con đều biết đến anh Phan Thanh Hòa (sinh năm 1983) – người tiên phong, được xem là “kiến trúc sư” của mô hình này. Với gần 7 năm kinh nghiệm, anh Hòa không chỉ phát triển kinh tế gia đình mà còn tích cực hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp con giống chất lượng cho các hộ nuôi trong xã.

Hình ảnh: Anh Phan Thanh Hòa bên bể nuôi lươn thương phẩm
Từ nhu cầu thực tiễn, THT nuôi lươn không bùn xã Vu Gia được thành lập nhằm kết nối các hộ dân, tạo điều kiện chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ vốn và nâng cao năng lực sản xuất. Nhờ đó, việc cung ứng sản phẩm ra thị trường được thuận lợi hơn, mang lại thu nhập ổn định từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng mỗi năm, tùy theo quy mô của từng hộ.
“Phép thử” từ thiên tai và lợi thế vượt trội của mô hình
Trận lũ lịch sử năm 2025 được xem là “phép thử” khắc nghiệt, đồng thời cũng chứng minh rõ tính ưu việt của mô hình nuôi lươn không bùn so với phương thức truyền thống. Điểm nổi bật là khả năng chủ động ứng phó với thiên tai, hạn chế tối đa thiệt hại.
Di dời linh hoạt: Lươn được nuôi trong bể xi măng lót gạch men, sử dụng lưới cước làm giá thể nên dễ dàng thu gom, di chuyển đến khu vực an toàn khi nước lũ dâng cao.
Khôi phục nhanh chóng: Sau khi nước rút, các hộ nuôi nhanh chóng vệ sinh bể, kiểm soát chất lượng nước và thả nuôi trở lại. Nhờ đó, đàn lươn sớm phục hồi và tiếp tục sinh trưởng đến giai đoạn thương phẩm.

Hình ảnh: Thả lươn vào bể trở lại sau lũ lịch sử
Hiện nay, tổng đàn lươn của THT đạt khoảng 50.000 – 60.000 con. Dù quy mô sản xuất tăng mạnh, nguồn cung con giống vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nội thành và các tỉnh lân cận, cho thấy tiềm năng phát triển còn rất lớn.
Kỹ thuật "3 sạch" và hướng đi bền vững
Để tạo ra sản phẩm lươn thương phẩm có chất lượng cao, THT tuân thủ nghiêm ngặt quy trình "Nước sạch - Thức ăn sạch - Bể sạch"
Thiết kế bể nuôi: Bể xi măng lót gạch men diện tích khoảng 6m², bề mặt nhẵn giúp hạn chế trầy xước da lươn, giảm nguy cơ phát sinh bệnh.
Hình ảnh: Hệ thống bể nuôi lươn không bùn
Quản lý môi trường nước: Thực hiện thay nước 2 lần/ngày sau khi cho ăn khoảng 1 h nhằm loại bỏ thức ăn dư thừa và chất thải, duy trì môi trường sống ổn định cho lươn.
Giá thể và dinh dưỡng: Sử dụng lưới cước làm giá thể giúp lươn trú ẩn an toàn, giảm stress. Thức ăn công nghiệp hàm lượng đạm cao được phối trộn khoa học giúp lươn lớn nhanh, đồng đều.
Không dừng lại ở nuôi lươn thương phẩm, dưới sự hướng dẫn của anh Hòa, nhiều hộ đã làm chủ kỹ thuật ấp trứng và ương dưỡng lươn giống. Quy trình ấp trong bể ấp trứng lươn cải tiến suốt 7 ngày giúp THT chủ động hoàn toàn nguồn giống, đảm bảo được tính thích nghi môi trường tại địa phương và giảm đáng kể giá thành sản xuất.
Hình ảnh: Hệ thống bể ấp trứng lươn cải tiến
"Chúng tôi không chỉ nuôi để bán, mà đang xây dựng một thương hiệu lươn sạch Vu Gia. Việc liên kết giúp bà con tự tin hơn trong khâu bao tiêu sản phẩm và đối phó với biến động thời tiết" – Anh Phan Thanh Hòa chia sẻ.
Mô hình nuôi lươn không bùn tại xã Vu Gia đã và đang khẳng định hiệu quả kinh tế cũng như tính thích ứng cao với điều kiện biến đổi khí hậu. Đây là hướng đi phù hợp cần được tiếp tục nhân rộng, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.