Trong những năm gần đây, việc thực hiện công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên chân đất lúa kém hiệu quả tuy còn gặp nhiều khó khăn, nhưng bước đầu đã hình thành được một số mô hình khả thi, có hiệu quả như Lạc xen sắn, ngô, mè, dưa hấu… Đây là nội dung quan trọng trong tái cơ cấu ngành sản xuất lúa theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Lạc là cây trồng truyền thống của nông dân Núi Thành và là cây trồng có diện tích đứng thứ 2 sau lúa. Vụ Đông xuân toàn huyện có 723,6 ha trồng lạc, năng suất bình quân đạt 15,95 tạ/ha. Tiềm năng còn có thể mở rộng và nâng cao hơn nữa nhờ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng và ứng dụng các giống mới vào sản xuất đang được đẩy mạnh. Nhất là việc ứng dụng chế phẩm sinh học hạn chế bệnh héo rũ tái xanh xãy ra phổ biến. Bên cạnh đó, lạc còn là một trong số ít loài cây trồng có đầu ra và ổn định trong nhiều năm liền. Trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay, sản xuất lúa kém hiệu quả cần được chuyển đổi bởi sản xuất lạc cần ít nước tưới lại cho hiệu quả cao hơn gấp 1,5 - 2 lần so với lúa, xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân.
Thực hiện sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp & PTNT Quảng Nam và sự giúp đỡ của Trung tâm Khuyến nông tỉnh cùng các cơ quan có liên quan ở huyện. Vụ Đông xuân 2016 - 2017, trạm KN-KL Núi Thành phối hợp với xã Tam Nghĩa xây dựng mô hình trình diễn “Tưới nước tiết kiệm: Lạc Đông xuân – Ngô Hè thu xen Đậu xanh”. Đến nay, mô hình “Trồng lạc thâm canh tổng hợp trên chân đất lúa chuyển đổi vụ ĐX 2016 – 2017” với quy mô 05ha, bước đầu cho kết quả như sau:
1. Chương trình đầu tư hỗ trợ:
- 100% giá trị giống (10 kg lạc vỏ/sào 500m2).
- 30% giá trị chế phẩm Trichoderma.
- Tổ chức tập huấn, chỉ đạo sản xuất và hội thảo đầu bờ cho hộ tham gia.
2. Kỹ thuật được khuyến cáo và áp dụng:
- Giống: Sử dụng giống lạc LDH.01, cấp xác nhận
- Chọn đất: Bố trí trên đất cát pha, chân đất lúa chuyển đổi tại xã Tam Nghĩa. Trước khi vào vụ sản xuất tiến hành dọn sạch cỏ dại, cày ải, làm đất tơi xốp, lên luống bằng phẳng, luống rộng từ 1- 1,2m, cao 25 - 30cm, rãnh rộng 25-30cm
- Khoảng cách: 30 * 10cm (1cây/hốc), hoặc 25 * 20cm (2 cây/hốc)
- Mật độ: 33 - 40 cây/m2.
- Phân bón (tính cho 1sào): Phân chuồng hoai mục 400 - 500kg; Urea 03 - 04kg; Kali: 8-10kg; Lân Văn Điển 25 - 30kg; Vôi nông nghiệp 20 - 30kg.
- Bón lót 50% vôi trước khi rạch hàng, toàn bộ phân chuồng hoai mục (Men Trichoderma spp Xử lý ủ phân chuồng hoặc trộn với phân chuồng hoai mục để bón) + Lân văn Điển.
- Bón thúc:
Thúc lần 1: Khi lạc có 3-4 lá thật, bón 100% Urea + 1/2 lượng phân Kali kết hợp xới xáo nhẹ và làm cỏ;
Thúc lần 2: Khi cây có 6-7 lá thật (sắp ra hoa, sau gieo 20-25 ngày) bón hết lượng vôi và Kali còn lại, kết hợp xới xáo nhẹ và làm cỏ.
- Chăm sóc:
+ Khi cây có từ 2 lá thật trở lên, tiến hành tỉa cây đúng mật độ quy định. Khi cây có từ 3 - 4 lá thật, xới nông đều khắp mặt luống kết hợp bón thúc;
+ Khi cây có 6 -7 lá thật, xới gốc sâu 3- 5cm để sạch cỏ và tạo gốc thoáng, chú ý không vun đất vào gốc. Khi lạc ra hoa 10 - 15 ngày, xới và vun nhẹ quanh gốc;
+ Khi gieo hạt xong, san phẳng mặt luống, dùng thuốc diệt cỏ tiền nẩy mầm phun đều lên mặt luống theo hướng dẫn của ngành BVTV;
+ Khô hạn cần tưới nước giữ ẩm để cây sinh trưởng phát triển tốt, nhất là thời kỳ trước ra hoa và thời kỳ làm quả (sau gieo 20 - 22 ngày) đến thu hoạch. Mưa, đất bị đóng váng, xới xáo phá váng để thông thoáng gốc, khi lạc châm vấu cho đến chín luôn giữ cho đất thường xuyên đủ ẩm. Tiêu nước kịp thời khi mưa to tránh để ngập úng.
+ Phòng trừ sâu bệnh: Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp trên đồng ruộng theo hướng dẫn của ngành BVTV. Chủ động phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp kỹ thuật thâm canh, vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo trồng. Tránh tình trạng gieo trồng lạc liên tục trên cùng chân đất. Dùng giống tốt, giống mới, bón phân cân đối và hợp lý, chủ động phòng trừ dịch hại bằng các biện pháp kỹ thuật canh tác và thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện kịp thời sâu bệnh gây hại để có biện pháp phòng trừ có hiệu quả nhất.
- Thu hoạch: Thu hoạch phải đúng độ chín, khi cây có 80-85% số quả già trên cây. Sau khi thu hoạch nhổ tách quả khỏi cây đem phơi ngay để đảm bảo chất lượng hạt, yêu cầu phơi lạc dưới nắng nhẹ là tốt nhất. Phơi đến khi lạc bóc vỏ lụa là đảm bảo chất lượng.
3. Kết quả thực hiện mô hình
3.1. Tình hình sinh trưởng, phát triển và năng suất (bảng 1)
|
TT
|
Các chỉ tiêu theo dõi
|
ĐVT
|
Lạc LDH.01
|
Ghi chú
|
|
1
|
Ngày gieo
|
|
09 – 18/01/2017
|
|
|
2
|
Thời gian từ gieo đến mọc
|
ngày
|
6
|
|
|
3
|
Tổng số cây ban đầu
|
Cây
|
33
|
|
|
4
|
Tỷ lệ mọc
|
%
|
90,91
|
|
|
5
|
Thời gian từ gieo đến ra hoa
|
ngày
|
28
|
|
|
6
|
Số cây hữu hiệu/m2
|
Cây
|
30
|
|
|
7
|
Tổng số quả/cây
|
Quả
|
14,3
|
|
|
8
|
Tổng số quả chắc/cây
|
Quả
|
12,7
|
|
|
9
|
Ngày thu
|
|
19 – 28/4/2017
|
|
|
10
|
TGST
|
ngày
|
110
|
|
|
11
|
P lý thuyết
|
gram
|
150
|
|
|
12
|
NS lý thuyết
|
Tạ/ha
|
57,15
|
|
|
13
|
Năng suất thực thu (dự kiến)
|
Tạ/ha
|
28,58
|
|
3.2. Tình hình nhiễm một số sâu bệnh chính (bảng 2):
Qua theo dõi cho thấy lạc LDH.01 trên đất lúa chuyển đổi ở vụ Đông Xuân sinh trưởng và phát triển tốt, nhiễm sâu bệnh ở mức độ nhẹ,. Sâu bệnh gây hại thấp hơn so với những chân ruộng trồng lạc trên đất màu; nhất là bệnh héo rũ tái xanh.
|
TT
|
Sâu bệnh
|
ĐVT
|
LDH.01
|
Lạc địa phương
|
|
1
|
Bệnh héo rũ tái xanh
|
%
|
0,95
|
1,60
|
|
2
|
Bệnh thối trắng cổ rể
|
%
|
0,50
|
0,52
|
|
3
|
Bệnh thối đen cổ rể
|
%
|
0,52
|
0,55
|
|
5
|
Bệnh đốm lá
|
%
|
17
|
18
|
|
6
|
Sâu xanh, sâu xám
|
con/m2
|
6
|
6
|
Những chân ruộng chăm sóc kém tỉ lệ sâu bệnh gây hại nặng hơn những chân ruộng chăm sóc tốt, đất vừa đủ ẩm phù hợp cho cây lạc sinh trưởng phát triển.
4. Hiệu quả kinh tế
4.1. So sánh hiệu quả kinh tế (Tính cho 01ha),
So sánh hiệu quả kinh tế giữa cây lạc với cây lúa trên cùng chân đất, vì đây là mô hình chuyển đổi cây lạc trên chân đất lúa, bảng 3
|
TT
|
Diễn giải
|
ĐVT
|
Lạc LDH.01
|
Lúa HT1 (đối chứng)
|
|
|
SL
|
Thành tiền (đồng)
|
SL
|
Thành tiền (đồng)
|
|
|
|
I
|
Tổng chi:
|
|
|
33.160.000
|
|
19.520.000
|
|
|
1
|
Vật chất:
|
|
|
18.160.000
|
|
7.520.000
|
|
|
|
- Giống
|
kg
|
200
|
9.000.000
|
80
|
1.280.000
|
|
|
|
- Vôi
|
kg
|
400
|
800.000
|
400
|
800.000
|
|
|
|
- Phân Urea
|
kg
|
80
|
800.000
|
160
|
1.600.000
|
|
|
|
- Phân Lân Văn điển
|
kg
|
400
|
1.600.000
|
150
|
600.000
|
|
|
|
- Phân Kali
|
kg
|
160
|
1.760.000
|
100
|
1.100.000
|
|
|
|
- Phân NPK16-16-8
|
kg
|
0
|
0
|
120
|
1.440.000
|
|
|
|
- Chế phẩm Trichoderma
|
kg
|
30
|
3.600.000
|
0
|
0
|
|
|
|
- Thuốc BVTV
|
kg
|
|
600.000
|
|
700.000
|
|
|
2
|
Công lao động:
|
công
|
100
|
15.000.000
|
80
|
12.000.000
|
|
|
II
|
Tổng thu:
|
kg
|
2.858
|
71.450.000
|
4.500
|
31.500.000
|
|
|
III
|
Thu nhập (II-1)
|
|
|
53.290.000
|
|
23.980.000
|
|
|
IV
|
Lãi ròng (II-I)
|
|
|
38.290.000
|
|
11.980.000
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thu nhập (nếu tính theo nông dân, lấy công làm lãi) thì mô hình cho thu nhập đạt khá 53,29 triệu đồng/ha (tương đương 2,66 triệu đồng/sào). Cao hơn sản xuất lúa trên cùng chân đất 2,22 lần (53,29 triệu/23,98 triệu đồng/ha). Về lãi ròng, sản xuất lạc có lãi ròng cao gấp 3,2 lần so với sản xuất lúa (38,29 triệu/11,98 triệu đồng/ha).
4.2 Hiệu quả về mặt xã hội và môi trường:
- Từng bước giúp nông dân tiếp cận với các giống lạc mới và nắm được kỹ thuật thâm canh trên chân đất lúa chuyển đổi. Góp phần chuyển đổi dần một số diện tích đất lúa kém hiệu quả, đất lúa vùng cuối kênh sang trồng cây trồng khác, trong đó, có cây lạc;
- Giảm nước tưới, giảm áp lực về lịch thời vụ và lao động khi sản xuất lúa.
- Sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma xử lý phân chuồng, phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ vi sinh, góp phần giảm ô nhiễm môi trường, hạn chế một số bệnh hại do nấm gây ra trên cây lạc, nhất là bệnh héo rũ tái xanh do vi khuẩn. Mô hình áp dụng quy trình thâm canh tổng hợp, IPM, bón phân cân đối, hợp lý, tưới nước tiết kiệm, quản lý dịch hại tốt, ít bị sâu, bệnh gây hại nên giảm việc sử dụng thuốc BVTV…..
5. Tóm lại
- Mô hình chuyển đổi từ lúa sang trồng lạc rất có ý nghĩa trong công tác chuyển đổi cây trồng ở Núi Thành nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung, cây lạc cho năng suất cao, sinh trưởng và phát triển tốt trên chân đất lúa chuyển đổi.
- Cây lạc LDH.01 phù hợp với điều kiện đất đai tại Núi Thành và hoàn toàn sinh trưởng, phát triển tốt trên chân đất lúa chuyển đổi, nếu đầu tư thâm canh đúng mức, tưới tiêu chủ động sẽ đạt năng suất khá. Sản xuất lạc ít tốn nước tưới hơn sản xuất lúa và một số cây trồng khác.
- Về lượng nước tưới: Khi sản xuất cây lạc trên nền đất lúa chuyển đổi thì giảm được từ 4 - 5 lần tưới/vụ và lượng nước dùng tưới cho lạc giảm từ 60 - 70% so với lúa. Vì vậy, mô hình này không những có hiệu quả về mặt kinh tế mà còn tiết kiệm một lượng lớn nước dùng trong công tác tưới tiêu, phù hợp với định hướng của ngành nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu, hiện tượng el-nino diễn ra trên diện rộng như hiện nay.
- Cần có chính sách cụ thể hỗ trợ cho việc xây dựng và nhân rộng mô hình Cánh đồng mẫu trong sản xuất trồng trọt nói chung, cánh đồng chuyển đổi cho cây trồng cạn nói riêng (trong đó có cây lạc, ngô).
Phan Bi